phan-biet-cac-chung-chi

Phân biệt một số loại chứng chỉ theo chuẩn quốc tế

I. TOEIC
Chứng chỉ Toeic viết tắt của Test of English for International Communication, là một chứng chỉ tiếng Anh quốc tế về giao tiếp dành cho người đi làm không phải là người sử dụng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ.
Mục tiêu của người học tiếng Anh đó là làm sao để có thể sử dụng tiếng Anh một cách hiệu quả trong môi trường làm việc hàng ngày, từ những tình huống giao tiếp cơ bản, đơn giản đến những tình huống phức tạp và chuyên môn hơn!
Hiện nay, phần lớn các công ty đều sử dụng bài thi TOEIC như một công cụ để đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh của cán bộ nhân viên và là tiêu chuẩn để tuyển dụng ứng viên. Vì vậy, việc học tiếng Anh theo chương trình TOEIC và việc thi chứng chỉ TOEIC đang rất được quan tâm.
Cấu trúc bài thi:
TOEIC là một bài kiểm tra trắc nghiệm bao gồm 200 câu hỏi. Những câu này chia đều cho hai phần – Nghe Hiểu và Đọc. Bài thi kéo dài trong hai giờ. Mỗi thí sinh nhận được điểm độc lập cho hai phần thi nghe hiểu và đọc trên một thang điểm từ 5 đến 495 điểm. Tổng điểm cộng lại có thang từ 10 đến 990 điểm. Chứng chỉ TOEIC có 5 màu, tùy theo kết quả: cam (10-215), nâu (220-465), xanh lá cây (470-725), xanh da trời (730-855) và vàng (860-990).
Trong phần thi Nghe Hiểu, các thí sinh phải lắng nghe các cuộc hội thoại ngắn, các câu, câu hỏi và các bài nói ngắn để trả lời câu hỏi. Phần này bao gồm 100 câu hỏi. Thí sinh sẽ hoàn tất phần thi Nghe này trong 45 phút.
Phần Đọc bao gồm 100 câu hỏi về đọc và chia làm 3 loại – câu chưa hoàn chỉnh, nhận ra lỗi sai, và đọc hiểu. Thí sinh có thể trả lời các câu hỏi trong phần này tùy vào tốc độ làm bài của mình. Thời gian để hoàn tất phần thì này là 75 phút.
Những kiến thức chuyên môn hay từ vựng không được đề cập đến trong kì thi TOEIC.
* Phần Nghe hiểu
– Phần 1: Câu hỏi hình ảnh:10 câu
– Phần 2: Hỏi và trả lời: 30 câu
– Phần 3: Hội thoai: 30 câu (10 đoạn hội thoại, mỗi đoạn có 3 câu hỏi)
– Phần 4: Cuộc nói chuyện ngắn: 30 câu hỏi (10 đoạn, mỗi đoạn có 3 câu hỏi)
* Phần Đọc hiểu
– Phần 5: Hoàn thành câu: 40 câu
– Phần 6: Hoàn thành đoạn văn: 12 câu hỏi (gồm 4 đoạn văn, mỗi đoạn 3 câu hỏi tương ứng)
– Phần 7: Đọc hiểu: 48 câu (đoạn đơn: 28 câu, đoạn kép: 20 câu)
II. TOEFL
Chứng chỉ TOFEL dành cho những bạn muốn thi cao học, đại học, cao đẳng… đi du học, định cư ở Mỹ (được đọc là toe-full hoặc toffle) là viết tắt của Test OEnglish as a Foreign Language. TOEFL là bài kiểm tra trình độ tiếng Anh (Mĩ). Bài kiểm tra này bao gồm các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. TOEFL đánh giá kĩ năng hiểu và sử dụng tiếng Anh chuẩn Mĩ của một người có đạt đến trình độ có thể sử dụng ở bậc đại học. Điểm TOEFL thường được yêu cầu khi nhập học ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng ở Mĩ. Điểm số TOEFL có giá trị trong 2 năm. Ngoài ra, các tổ chức như cơ quan chính phủ, cơ quan cấp giấy phép, doanh nghiệp, hoặc học bổng chương trình có thể yêu cầu chứng chỉ này.
Các dạng thi Toefl:
TOEFL trên Internet (iBT)
Đây là bài thi TOEFL thế hệ mới, sử dụng Internet để chuyển đề thi từ ETS về đến trung tâm tổ chức thi. Kể từ khi được giới thiệu vào cuối năm 2005, TOEFL iBT đang từng bước thay thế hoàn toàn dạng thi trên giấy (PBT) và dạng thi trên máy tính (CBT). Kì thi đã được tổ chức ở các quốc gia Mĩ, Canada, Pháp, Đức và Ý vào năm 2005 và các quốc gia khác vào năm 2006.
Bài thi TOEFL kéo dài trong 4 giờ và gồm có 4 phần, đòi hỏi thí sinh phải sử dụng thành thạo 4 kĩ năng. Nội dung của bài thi tập trung vào việc sử dụng tiếng Anh trong môi trường đại học hoặc cao học. Trong khi làm bài thí sinh có thể ghi chú.
1. Nghe: Khoảng 34-50 câu hỏi, kéo dài từ 50-90 phút.Phần nghe bao gồm 6 đoạn, mỗi đoạn kéo dài 3-5 phút và kèm theo câu hỏi về đoạn văn. Trong đó có 2 đoạn đối thoại của sinh viên và 4 đoạn thảo luận hoặc bài giảng về học thuật và chỉ nghe một lần. Mỗi cuộc hội thoại được có 5 câu hỏi và mỗi bài giảng có 6 câu hỏi. Các câu hỏi với mục đích đánh giá khả năng hiểu ý chính, thông tin chi tiết quan trọng, mục đích và thái độ của người nói.Nội dung các bài nghe lấy trong bối cảnh của một trường đại học hay cao đẳng ở một nước nói tiếng Anh.
2. Nói: Gồm 6 bài nói.2 bài đầu là hình thức bài nói riêng (Independent Task) về một đề tài quen thuộc trong xã hội và sinh hoạt hằng ngày. Thí sinh sẽ được đánh giá về khả năng nói chuyện tự nhiên và cách thức truyền đạt ý tưởng. Thí sinh có 45 giây để nói.4 bài nói tiếp theo là bài nói tích hợp (Integrated Task). Thí sinh phải nghe một đoạn hội thoại hay một bài thuyết giảng và sau đó trả lời dựa theo câu hỏi đưa ra có liên quan đến đoạn hội thoại hay bài thuyết giảng. Thí sinh sẽ được đánh giá về khả năng tổng hợp và truyền đạt thông tin từ các tài liệu. Ờ phần này, thí sinh có 60 giây để nói.
3. Đọc: Cũng có hai hình thức là dài và ngắn.Ở dạng dài, thí sinh sẽ trả lời câu hỏi về 5 bài đọc trích từ các sách giáo trình của trường đại học hoặc cao đẳng ở Bắc Mỹ. Ở dạng ngắn, thí sinh phải trả lời câu hỏi về 3 bài đọc cũng có độ dài từ 700-750 từ nhưng với thời gian ngắn hơn là 60 phút (so với 100 phút của dạng dài).Phần này đòi hỏi khả năng thuyết trình, tranh luận, phản biện.
4. Viết: Gồm 2 bài viết.Bài thứ nhất là dạng Integrated Task. Thí sinh phải đọc một đoạn văn sau đó nghe một bài thuyết giảng rồi tóm tắt lại và nêu mối quan hệ giữa đoạn văn và bài thuyết giảng. Bài viết phải vào khoảng 150-225 từ. Thí sinh có 20 phút để viết.Bài thứ hai là dạng Independant Task về một đề tài trong xã hội. Bài viết phải vào khoảng 300-350 từ. Thí sinh có 35 phút để viết.
Thang điểm TOEFL iBT
* Thang điểm cho một bài thi TOEFL iBT là 0 – 120 điểm.
* Mỗi phần: Nghe, Nói, Đọc, Viết có thang điểm từ 0 – 30 điểm. Tổng điểm của cả 4 phần sẽ là điểm của bài thi.
* Đầu tiên, phần Nói sẽ có thang điểm 0 -4 điểm, phần Viết có thang điểm 0 – 5 điểm. Sau đó sẽ được chuyển qua thang điểm 0 – 30 điểm để tính tổng điểm cho bài thi.
TOEFL trên máy tính (CBT)
TOEFL trên máy tính (CBT) được tổ chức đầu tiên vào ngày 30 tháng 9 năm 2006. Bài thi cũng được chia ra làm 4 phần : nghe, cầu trúc ngữ pháp, đọc hiểu và viết. Trong lúc làm bài thí sinh không được phép ghi chú.
1. Phần nghe (45-70 phút).gồm 2 dạng: thí sinh sẽ nghe những đoạn đối thoại giữa 2 hoặc nhiều người trong lớp học hoặc trong trường đại học; hoặc những mẫu đối thoại giữa sinh viên với giảng viên. Các câu hỏi thường là dạng : aichủ đề của câu chuyện và ở đâu.
2. Phần ngữ pháp (15-20 phút).thường là dạng nhận định chỗ sai trong câu và điền từ thích hợp vào chỗ trống.
3. Phần đọc hiểu (70-90 phút).Thí sinh sẽ đọc đoạn văn và trả lời các câu hỏi liên quan, thường là các dạng như: chủ đề của đoạn văn, các câu hỏi liên quan đến tác giả, các ý kiến được suy ra từ nội dung của đoạn văn…
4. Phần viết bài luận (30 phút).Viết một bài luận về một chủ đề thông thường và nêu ra quản điểm chủ quan của thí sinh về chủ đề đó.
Bài thi TOEFL trên máy tính (CBT) được lập trình trước để mức độ khó-dễ của câu hỏi sẽ phụ thuộc vào sự trả lời của thí sinh đối với những câu hỏi trước.Điểm số sẽ được chấm thành 3 phần theo thang điểm 0-30: nghe, đọc hiểu-ngữ pháp (gộp chung) và viết. 3 phần điểm sau đó được qui đổi thành điểm cuối cùng với thang điểm từ 0-300. Điểm viết sẽ được cho biết riêng theo thang điểm 0-6.
TOEFL trên giấy (PBT)
Đây là dạng thi TOEFL cũ. Dạng này hầu như đã không còn được sử dụng trừ những khu vực không có điều kiện để thi iBT hoặc CBT. Cấu trúc bài thi PBT cũng tương tự như bài thi PBT chỉ có số câu hỏi nhiều hơn và thang điểm rộng hơn. Thang điểm tổng kết của TOEFL PBT là từ 310-677 và được qui đổi từ 3 cột điểm: nghe (31-68), ngữ pháp (31-68) và đọc (31-67). Khác với CBT, điểm phần viết (TWE – Test of Written English) không được tính vào điểm tổng kết mà được cho riêng biệt với thang điểm từ 0-6.

III. Chứng chỉ IELTS
Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế (tiếng Anh: International English Language Testing System, viết tắt là IELTS, đọc là /’ielts/) là một bài kiểm tra về sự thành thạo Anh ngữ. Nó được đồng điều hành bởi ba tổ chức ESOL của Đại học Cambridge (University of Cambridge ESOL), Hội đồng Anh (British Council) và tổ chức giáo dục IDP của Úc và được khai triển từ năm 1989. Người thi có thể lựa chọn giữa hai hình thức: Academic (học thuật) hoặc General training module (đào tạo chung):
– Loại hình học thuật dành cho những ai muốn học ở bậc đại học hoặc các học viện, các hình thức đào tạo sau đại học.
– Loại hình đào tạo chung dành cho những ai muốn tham gia những khóa học nghề, muốn tìm việc làm, hoặc vì mục đích di cư.
IELTS được chấp nhận bởi phần lớn các học viện ở Australia, Anh, Canada, Ireland, New Zealand và Nam Phi, ngày càng nhiều các học viện ở Mĩ, và nhiều tổ chức nghề nghiệp. Nó cũng là một yêu cầu bắt buộc đối với việc di cư đến Australia và Canada. Kết quả của kì kiểm tra IELTS (TRF-Test Report Form) sẽ có hiệu lực trong vòng 2 năm. Trong năm 2007, đã có hơn một triệu thí sinh tham dự kì kiểm tra IELTS. Và IELTS đã trở thành hệ thống kiểm tra ngôn ngữ tiếng Anh dành cho bậc sau đại học và người di cư phổ biến nhất trên thế giới.
Cấu trúc bài thi:
Tất cả các thí sinh phải hoàn thành bốn phần của bài thi: Nghe, Đọc, Viết, Nói. Các thí sinh sẽ thi chung phần Nghe và Nói trong khi phần thi Viết và Đọc sẽ khác biệt tuỳ theo việc thí sinh đó đăng kí hình thức thi Học thuật hay Đào tạo chung.
– Nghe: là bài thi gồm khoảng 40 câu diễn ra từ 20-30 phút, trong bài thi nghe có 4 phần (số câu hỏi không được chia đều), nghe 1 lần và các đoạn nghỉ được ghi kèm trong băng hoặc đĩa. Cuối bài thi các thí sinh sẽ có 10 phút để ghi lại kết quả vào Answer Sheet (Phiếu trả lời câu hỏi) Phần 1: là các tình huống đời thường (đăng ký hoạt động, thuê nhà, nhập học) thường là 1 cuộc nói chuyện nhưng là hỏi đáp, và người đáp thường nói nhiều hơn. Phần 2: là các tình huống hướng dẫn và giới thiệu về 1 chủ đề quen thuộc (trường học, khu du lịch, chương trình ca nhạc, triển lãm,..) thường chỉ nói bởi 1 người. Phần 3: là các tình huống đối thoại giữa ít nhất là 2 người, đây là các cuộc thảo luận có tính chất học thuật hơn (Ví dụ: chọn chủ đề khóa luận, đề tài nghiên cứu khoa học) Phần 4: là 1 bài thuyết trình về 1 chủ đề học thuật, thường do 1 người nói và dùng nhiều từ ngữ mang tính chất học thuật.
– Đọc: là bài thi gồm khoảng 40 câu hỏi trong chính xác 60 phút (không có thời gian giành cho ghi lại câu trả lời cuối bài thi), được chia làm 3 phần, mỗi phần là 1 bài đọc khoảng 1500 từ với câu hỏi được chia tương đối đều. Khác với bài nghe, bài đọc không có độ khó tăng dần mà hoàn toàn là ngẫu nhiên.
– Viết: là 1 bài thi gồm 2 bài tập trong thời gian chính xác là 60 phút (thí sinh phải tự phân phối thời gian), gồm 1 bài về mô tả 1 biểu đồ, 1 quá trình, 1 hiện tượng được biểu diễn giới dạng hình vẽ; 1 bài là bài luận về 1 chủ đề đưa ra.
– Nói: Là 1 bài nói trong thời gian khoảng 12-15 phút, gồm 3 phần: Phần 1: Trả lời các câu hỏi về các chủ đề chung chung như quê hương, gia đình, sở thích, … Phần 2: Người hỏi sẽ đưa cho bạn 1 yêu cầu về mô tả 1 sự việc hiện tượng có liên quan đến bạn, trong yêu cầu sẽ có 4 gợi ý để thí sinh có thể dễ dàng phát triển ý. Thí sinh có 1 phút để suy nghĩ và nhiều nhất là 2 phút để trả lời. Kết thúc phần trả lời, người hỏi có thể sẽ hỏi thêm 1 đến 2 câu hỏi. Phần 3: Người hỏi sẽ hỏi bạn các câu hỏi về chủ đề liên quan tới hiện tượng và sự việc mà bạn đã trình bày ở trên. Các câu hỏi ở phần này thường là các loại sau: 1. Discuss (bàn luận) 2. Compare (so sánh) 3. Speculate (dự đoán) 4. Analyse (phân tích) 5. Explain (giải thích) 6. Evaluate (ý kiến)
Thang điểm
Thang điểm
Thang điểm: IELTS được đánh giá trên một thang điểm 9 cấp. Mỗi một mức điểm điểm ứng với từng trình độ khác nhau, trong đó có tính đến điểm 0.5 (Ví dụ như 6.5 hay 7.5). Một thang điểm 9 cấp độ được miêu tả gồm có:
9 Thông thạo
Đã hoàn toàn nắm vững ngôn ngữ với một sự phù hợp, chính xác, lưu loát và thông hiểu hoàn toàn đầy đủ
8 Rất tốt
Hoàn toàn nắm vững ngôn ngữ, chỉ đôi khi mắc những lỗi như không chính xác, không phù hợp nhưng lỗi này chưa thành hệ thống. Trong những tình huống không quen thuộc có thể sẽ không hiểu. Sử dụng tốt với những chủ đề tranh luận phức tạp, tinh vi.
7 Tốt
Nắm vững ngôn ngữ, nhưng đôi khi có những sự không chính xác, không phù hợp, không hiểu trong một số tình huống. Nói chung là sử dụng tốt ngôn ngữ phức tạp và hiểu những lí lẽ tinh vi.
6 Thành thạo
Sử dụng ngôn ngữ tương đối hiệu quả tuy có những chỗ không chính xác, không phù hợp, không hiểu. Có thể sử dụng và hiểu tốt ngôn ngữ phức tạp, đặc biệt là trong những tình huống quen thuộc.
5 Bình thường
Sử dụng được một phần ngôn ngữ, nắm được nghĩa tổng quát trong phần lớn các tình huống, dù thường xuyên mắc lỗi. Có thể sử dụng ngôn ngữ trong những lĩnh vực riêng quen thuộc của mình.
4 Hạn chế
Có sự thành thạo cơ bản bị hạn chế trong những tình huống quen thuộc. Thường có khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ phức tạp.
3 Cực kì hạn chế
Có thể nói và hiểu trong những tình huống rất quen thuộc. Thường thất bại trong giao tiếp.
2 Lúc được lúc không
Không có những giao tiếp thực sự ngoại trừ những thông tin cơ bản nhất với những từ ngữ riêng lẻ hoặc những cú pháp ngắn trong tình huống thông thường để đạt được mục đích tức thời. Khó khăn lớn trong việc nói và viết tiếng Anh.
1 Không biết sử dụng
Hoàn toàn không có khả năng sử dụng tiếng Anh ngoài vài từ riêng lẻ.
0 Bỏ thi
Không một thông tin nào để chấm bài. Người dự thi đã không thể tham dự kì thi.
IV. Chứng chỉ GMAT
Graduate Management Admission Test là một bài thi linh hoạt được tiêu chuẩn hóa thực hiện trên máy tính với toán và tiếng Anh để đánh giá khả năng bẩm sinh thành công trong lĩnh vực học thuật bậc trên đại học.Các trường về kinh tế thường sử dụng bài kiểm tra này như là 1 trong nhiều tiêu chí lựa chọn đầu vào cho chương trình quản trị kinh doanh bậc trên đại học (như là : MBA, Master of Accountancy,ect.) chủ yếu là ở Mĩ và cả một số nước nói tiếng Anh khác nữa. Bài thi được gửi qua đường máy tính đến các địa điểm trên toàn thế giới.Ở những địa điểm quốc tế, nơi chưa thiết lập mạng máy tính, bài thi GMAT hoặc được thực hiện trên máy tính tại chỗ với 1 bảng câu hỏi giới hạn hay là được thực hiện trên giấy (được thực hiện 1 hoặc 2 lần 1 năm) ở những địa điểm thi tại nơi đó.Như vào tháng 12 năm 2009 ,lệ phí thi là 250 đô la Mĩ trên toàn cầu.Đó là tiêu chuẩn đánh giá được phân phát bằng tiếng Anh, giúp cho các trường thương mại đánh giá khả năng của những ngưòi nộp đơn xin học thương mại và quản trị cấp cao. Các trường học sử dụng đề kiểm tra như là công cụ dự đoán trước thành tích ở nhà trường trong chương trình MBA hoặc trong các trương trình quản lý giáo dục khác.
*Tiêu chuẩn đánh giá GMAT :
Các bài thi GMAT đánh giá qua các từ, toán học cơ bản, khả năng phân tích mà bạn tiếp thu đựoc qua suốt thời gian đi học và làm việc. Nó không có đánh giá :
-Trình độ kinh doanh của bạn
-Kĩ năng nghề nghiệp
-Nội dung cụ thể trong chương trình học hay công việc trong chương trình đầu tiên của Đại học.
-Khả năng đặc biệt trong các môn học
-Năng lực riêng, như là động cơ thúc đẩy, tính sáng tạo, và các kĩ năng cá nhân
V. Chứng chỉ GRE
(Graduate Record Examination) là một hệ thống kiểm tra, đánh giá nhằm giúp cho các trường đại học,các cơ quan tài trợ đánh giá một cách đúng đắn năng lực của các ứng cử viên. GRE kiểm tra thí sinh về 3 năng lực cơ bản là ngôn ngữ (verbal), toán học (quantative) và viết luận (analytical writing).
Hầu hết các trường đại học danh tiếng của Mỹ đều yêu cầu ứng viên phải tham dự kỳ thi này. Kết quả của kỳ thi này cộng với điểm học trong quá trình đại học sẽ là một trong những sở cứ để nhân viên xét tuyển quyết định chấp nhận hay từ chối một ứng viên vào chương trình sau đại học của khoa/trường mình.
Kỳ thi GRE trên giấy bao gồm 5 phần nhỏ, ngoài ra người ta thường lồng vào kỳ thi này một phần thử nghiệm nữa nhưng thí sinh không biết phần nào là phần thử nghiệm cả. Nhiệm vụ của phần thử nghiệm là nhằm giúp ETS xây dựng được các bộ đề thi GRE tốt hơn trong tương lai. Phần thi viết bao giờ cũng là phần thi đầu tiên, thứ tự các phần thi còn lại là hoàn toàn ngẫu nhiên.
Thang điểm của các phần thi như sau:
– Phần toán: điểm từ 200-800, khoảng cách giữa các mức điểm cạnh nhau là 10
– Phần ngôn ngữ: điểm từ 200-800, khoảng cách gữa các mức điểm cạnh nhau là 10
– Phần viết: điểm từ 0-6, khoảng cách giữa các mức điểm cạnh nhau là 0.5
Thời gian dành cho kỳ thi là 3 giờ 45 phút.
Trong 3 phần thi kể trên, phần toán là dễ nhất, đặc biệt là đối với sinh viên Việt Nam. Hai phần thi sau khó hơn. Thông thường, điểm thi là toán: 790-800, ngôn ngữ 450-500, viết: 5-5.5 được coi là chấp nhận được.
VI. Chứng chỉ SAT
SAT (Scholastic Aptitude Test) là bài thi kiểm tra khả năng của học sinh trung học được sử dụng phổ biến nhất để kiểm tra đầu vào của các trường Cao đẳng và Đại học trên thế giới. Hầu hết các trường Cao đẳng và Đại học ở Mỹ đều dựa vào SAT để đánh giá khả năng suy luận của học sinh trung học cho việc học ở các bậc học cao hơn. SAT đánh giá các kỹ năng phân tích và xử lý tình huống của học sinh trung học. Tổ chức College Board nói rằng kỳ thi SAT kiểm tra kỹ năng kỹ năng tư duy cần thiết cho sự thành công trong việc học tập ở đại học. SAT đồng thời cũng đánh giá kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề – kỹ năng mà học sinh học được từ trường cấp 2 và cấp 3. Những thí sinh của kỳ thi SAT thường là học sinh lớp 11 hoặc 12.
SAT không phải là bài thi kiểm tra trình độ tiếng Anh như TOEFL hay IELTS. SAT là bài thi kiểm tra khả năng đọc suy luận, viết và toán học của học sinh. Bài thi được thực hiện bằng tiếng Anh. Do đó, yêu cầu chung cho tất cả học sinh tham dự là phải thông thạo tiếng Anh.

Các bài đã đăng